Bảo kính cảnh giới bài 56

Trí qua mười mới khả rằng nên,

Ỷ lấy nho, hầu đấng hiền.

Đao bút phải dùng tài đã vẹn,

Chỉ thư nấy chép việc càng chuyên.

Vệ nam mãi mãi ra tay thước,

Điện bắc đà đà yên phận tiên.

Nghiệp Tiêu Hà làm khá kịp,

Xưa nay cũng một sử xanh truyền.

Phân tích:

Trí qua mười mới khả rằng nên,

( trí phải 10/10 mới nên. Sự thực là phải tình lý tương tham mới đạt).

Ỷ lấy nho, hầu đấng hiền.

( dựa vào Nho giáo là đúng, nhưng hầu đấng hiền là sai. Đấng hiền không cần bạn phải hầu).

Đao bút phải dùng tài đã vẹn,

( dùng đao bút để khắc lên tre, gồm tài. Câu này hơi tự phụ, chưa đạt tri hành hợp nhất. Cái tài đã vẹn mới kết ở trong một người, chứ chưa kết ở trong thiên hạ như nước Lỗ đã kết nhờ tài học của Khổng Tử.)

Chỉ thư nấy chép việc càng chuyên.

( chép chiếu thư, thánh chỉ ngày càng chuyên cần, chuyên nghiệp).

Vệ nam mãi mãi ra tay thước,

( bảo vệ nước Nam nên liên tục viết)

Điện bắc đà đà yên phận tiên.

( dẹp xong giặc Bắc thì dân mới đạt yên, tức là yên phận tiên. Câu này cũng chưa thật đúng. Muốn nước được trên thì trước phải phổ cập triết lý trong dân chứ không phải chỉ ra tay thước đuổi ngoại xâm là được. Giặc nội xâm mới đáng sợ hơn. Bảo vệ nước Nam không chỉ là việc dẹp Bắc, mà chính yếu hơn là bảo vệ và phát huy thuyết Việt Nho- theo giáo sư Lương Kim Định).

Nghiệp Tiêu Hà làm khá kịp,

( học theo sự nghiệp của Tiêu Hà, một danh tướng đời Hán)

Xưa nay cũng một sử xanh truyền.

( mục đích là để tiếng được lưu truyền).

Advertisements

Bình giảng bài thơ Tức Sự của Trần Nhân Tông

Xã tắc lưỡng hồi lao thạch mã

Sơn Hà thiên cổ điện kim âu

Dịch thơ:

Xã tắc hai phen chồn ngựa đá

Non sông nghìn thuở vững Âu vàng

Lời chú của Đại Việt Sử ký toàn thư: năm 1288, triều đình đem các tướng giặc ở Chi Lăng làm lễ hiến Tiệp. Trần Nhân Tông nhân thấy mấy chân mấy con ngựa đá lấm bùn nên làm bài thơ này.

Bình giảng lại bài thơ Tụng giá hoàn kinh sư của Trần Quang Khải

Phiên âm:

Đoạt sóc Chương Dương Độ,

Cầm Hồ Hàm Tử quan.

Thái bình tu trí lực,

Vạn cổ thử giang san.

Trần Quang Khải.

Bình luận:

Một nhà cướp ngôi nhà Lý như nhà Trần, họ biết rằng sớm muộn cũng bị một nhà khác đoạt ngôi.

Chế độ vạn cổ ở chỗ nào?

Giải thích một số địa điểm trong bài: Chương Dương là một địa điểm ở Hà Nội. Tướng Trần Quang Khải đánh thắng trận lớn ở đây để giải phóng thủ đô, quân Thoát Hoan hoảng loạn bỏ chạy.

Bài thơ viết vào ngày 6 tháng 6 năm Ất Dậu (9-7-1285).

Bình giảng lại bài thơ Thuật Hoài của Phạm Ngũ Lão

Tranh vẽ Phạm Ngũ Lão ngồi đan sọt bên đường, mặc cho quân lính đâm giáo vào đùi vẫn không thấy đau.
Tranh vẽ Phạm Ngũ Lão ngồi đan sọt bên đường, mặc cho quân lính đâm giáo vào đùi vẫn không thấy đau.

Hoành sóc giang sơn cáp kỷ thu

Tam quân tỳ hổ khí thôn ngưu

Nam nhi vị liễu công danh trái,

Tu thính nhân gian thuyết Vũ Hầu

Continue reading Bình giảng lại bài thơ Thuật Hoài của Phạm Ngũ Lão

Nguyễn Đăng Mạnh, Chu Văn Sơn, Đỗ Ngọc Thống, ba tên giáo sư rẻ tiền viết những văn mẫu rẻ tiền.

Nguyễn Đăng Mạnh
Nguyễn Đăng Mạnh

Giáo sư- nhà giáo nhân dân Nguyễn Đăng Mạnh-một vị thái thượng hoàng của việc soạn sách giáo khoa văn trung học, vua của việc đào tạo ra các giáo sư tiến sĩ văn học, lại không hiểu và viết rất bậy bạ về bài thơ tứ tuyệt “Mời Trầu” của Hồ Xuân Hương, thì thử hỏi có phải Bộ giáo dục & đào tạo đang trao trứng cho ác trong việc dạy môn văn hay không? Xin đọc bài viết sau của Trần Mạnh Hảo: Continue reading Nguyễn Đăng Mạnh, Chu Văn Sơn, Đỗ Ngọc Thống, ba tên giáo sư rẻ tiền viết những văn mẫu rẻ tiền.

Phân tích lại bài Bảo kính cảnh giới số 5

Hình ảnh chỉ mang tính chất minh họa
Hình ảnh chỉ mang tính chất minh họa

Trong bài thơ Bảo kính cảnh giới số 5, Nguyễn Trãi viết:

Văn chương chép lấy đòi câu Thánh

Sự nghiệp tua gìn phải đạo trung

Trừ độc, trừ tham, trừ bạo ngược

Có nhân, có trí, có anh hùng.

Continue reading Phân tích lại bài Bảo kính cảnh giới số 5

Đánh giá lại bài thơ Loạn hậu đảo Côn Sơn cảm tác của Nguyễn Trãi

tac-gia-nguyen-trai-mot-net-chinh-trong-cuoc-doi-va-su-nghiep-2-1

Loạn hậu đáo Côn Sơn cảm tác 亂後到崑山感作 • Sau loạn về Côn Sơn cảm tác
Thơ » Việt Nam » Hậu Lê, Mạc, Trịnh-Nguyễn » Nguyễn Trãi » Ức Trai thi tập » Thơ làm trong khi chưa thành công

亂後到崑山感作
一別家山恰十年,
歸來松匊半翛然。
林泉有約那堪負,
塵土低頭只自憐。
鄕里纔過如夢到,
干戈未息幸身全。
何時結屋雲峰下,
汲澗烹茶枕石眠。

Loạn hậu đáo Côn Sơn cảm tác
Nhất biệt gia sơn kháp thập niên,
Quy lai tùng cúc bán tiêu nhiên.
Lâm tuyền hữu ước na kham phụ,
Trần thổ đê đầu chỉ tự liên.
Hương lí tài qua như mộng đáo,
Can qua vị tức hạnh thân tuyền (toàn).
Hà thời kết ốc vân phong hạ,
Cấp giản phanh trà chẩm thạch miên.

Dịch nghĩa
Từ giã quê hương vừa đúng mười năm
Nay trở về, tùng cúc một nửa đã tiêu sơ
Đã hẹn với rừng suối mà sao nỡ phụ
Trong cát bụi cúi đầu tự thương mình
Vừa qua làng, tưởng như chiêm bao
Chiến tranh chưa dứt, may được toàn thân
Bao giờ được làm nhà dưới núi mây
Múc nước suối nấu trà, gối lên đá mà ngủ.

 

“Loạn hậu đáo Côn sơn cảm tác” (sau loạn tới Côn sơn, cảm xúc làm ra) là một trong những bài thơ hay của Nguyễn Trãi, được nhiều người yêu thích. Đề tài “về quê sau biến loạn” vẫn là một đề tài được ưa chuộng từ xưa đến nay. Trong bài có nhiều câu thơ hay:

Trần thổ đê đầu chỉ tự liên

(Cúi đầu trong đám bụi đất [của cuộc đời], chỉ tự thương mình)

hay:

Hà thời kết ốc vân phong hạ

(Bao giờ làm được căn nhà dưới núi có mây che).

Thật không đáng ngạc nhiên khi thấy cho tới nay bài thơ ấy được nhiều người dịch và chú giải. Ta có thể kể: Trúc Khê, Đào Duy Anh, Huy Cận, Lê Cao Phan, Hoàng Khôi, Mai Quốc Liên, Đông Xuyên, Duy Phi, Dương Anh Sơn, Đặng Thế Kiệt … Nhưng có một mâu thuẫn rất đáng chú ý giữa nhan đề của bài thơ và một câu trong bài. Cho tới nay, mâu thuẫn ấy chưa được giải đáp.

 

Trong tất cả các tổng tập, tuyển tập thơ Nguyễn Trãi, nhan đề bài thơ đều được ghi là “Loạn hậu đáo Côn sơn cảm tác” (sau loạn tới Côn sơn …). Trong một bản chuyển ngữ sang tiếng Anh, Lê Cao Phan cũng dịch, “Back to Côn sơn after the hostilities.” Nhưng với câu thơ thứ 6 trong bài, bản nào cũng chép là, “Can qua vị tức hạnh thân tuyền” (Chiến tranh chưa chấm dứt, may được vẹn tấm thân). Vậy khi Nguyễn Trãi làm ra bài thơ này, cuộc chiến tranh (chống quân Minh)đã chấm dứt hay chưa chấm dứt?

 

Tất cả các tài liệu hiện có đều không cho biết trường hợp hoặc thời điểm Nguyễn Trãi đã làm ra bài thơ. Trong Nguyễn Trãi toàn tập do Viện Sử Học xuất bản ở Hà Nội năm 1976, học giả Đào Duy Anh cũng chỉ xếp bài này vào nhóm những bài “thơ làm khi chưa thành công.” Để có thể hiểu đúng tâm trạng Nguyễn Trãi trong bài này, thiết nghĩ chúng ta cần tìm tòi và phân tích sâu hơn.

 

Trước hết, xin được trình bày lại bài thơ, với nguyên tác chữ Hán, phiên âm, và dịch nghĩa.

 

Đọc lại một số chi tiết do Đại Việt Sử Ký Toàn Thư cung cấp và Khâm Định Việt Sử Thông Giám Cương Mục xác nhận, ta có thể phỏng đoán một cách dè dặt như sau:

 

Trong hai năm Ất Tỵ 1425 và Bính Ngọ 1426, nghĩa quân Lam sơn thu được nhiều thắng lợi đáng kể. Tháng giêng năm Ất Tỵ, quân ta vây Nghệ An. Tháng 5 năm Ất Tỵ, sau một trận thắng lớn, quân ta vây Tây Đô. Tháng 7 năm Ất Tỵ, ta khôi phục Tân Bình và Thuận Hóa. Tháng 8 năm Bính Ngọ 1426, Bình Định vương và bộ chỉ huy quyết định đem quân ra Bắc, chuẩn bị vây và tấn công Đông Đô (tức Thăng Long, người Minh gọi là Đông Quan). Ba đạo quân cùng tiến. Một đạo lấy lại Sơn Tây, Hưng Hóa … để ngăn ngừa quân Minh sang tiếp viện theo đường Vân Nam. Một đạo khôi phục vùng Hải Dương, Bắc Giang, Lạng Sơn … để phòng chặn quân Minh sang tiếp viện theo đường Quảng Tây qua Lạng Sơn. Đạo chủ lực ra thẳng Đông Đô.

 

Tháng 10 năm Bính Ngọ, sau một trận thua thật lớn ở Tốt Động (cũng gọi là Tụy Động), quân Minh rút về cố thủ và bị vây trong thành Đông Quan. Bình Định vương chia đất Bắc làm 4 đạo, đặt quan trấn giữ, tuần phòng. Tháng giêng năm sau, Đinh Mùi 1427, quân ta tu bổ đền thờ Hưng Đạo Đại Vương trên núi Vạn Kiếp. Tuy mãi đến tháng 12 năm Đinh Mùi, sau khi hai đạo viện binh của Liễu Thăng và Mộc Thạnh đã bị phá tan, bọn Vương Thông mới chịu ra hàng và rút quân về, nhưng từ tháng 8 năm Bính Ngọ trở đi, tình hình mạn Hải Dương đã tạm ổn định để Nguyễn Trãi có thể ghé qua Côn sơn (cũng trong huyện Chí Linh, không xa núi Vạn Kiếp). Tuy sử không chép rõ, cũng có thể ông được cử đi trong một kỳ hạn rất ngắn để quan sát địa thế và phủ dụ dân chúng vùng Hải Dương, nơi ông lớn lên và thông thạo hơn các võ tướng gốc Lam sơn. Mấy chữ “hương lý tài qua” (làng quê vừa đi qua) và “đáo Côn sơn” (đến Côn sơn) cho thấy Nguyễn Trãi cũng chỉ ghé qua Côn sơn rất nhanh. Bài “Loạn hậu đáo Côn sơn cảm tác” có thể đã được sáng tác trong giai đoạn này (từ tháng 8 năm Bính Ngọ 1426 tới đầu năm Đinh Mùi 1427).

 

Tuy đang ở thế ưu thắng, quân ta vẫn phải tích cực chuẩn bị để đối phó với các đạo viện binh sắp từ Trung Hoa kéo sang. Nhiệm vụ của Nguyễn Trãi trong cuộc vây Đông Đô cũng rất nặng: ở cạnh Bình Định vương để định kế hoạch, thảo rất nhiều văn thư khuyên dụ Vương Thông ra hàng, vào tận trại giặc ở trong thành cho giặc thấy sự thành tín mà yên tâm rút quân. Khi ông làm bài này, đối với vùng Hải Dương, Côn sơn, hai tiếng “loạn hậu” coi như khá chính xác vì đã do nghĩa quân Lam sơn làm chủ, nhưng can qua vẫn chưa hết (“vị tức”) trong toàn cuộc kháng Minh.

 

Qua bài thơ, ta thấy được phần nào tâm tư của Nguyễn Trãi. Một bên là niềm xót xa trước cảnh tiêu điều của Côn sơn, nơi ông lớn lên cùng có bao nhiêu kỷ niệm thời thơ ấu. Một bên là nỗi buồn thấm thía vì ý thức rõ rằng giữa bụi đất cuộc đời (“trần thổ đê đầu”), ngày được về hưởng cuộc sống yên bình bên núi cũ vẫn còn rất xa. Ước mơ của ông thật đơn giản, đồng thời cũng là ước mơ của bao thế hệ người Việt, hậu bối của ông từ đó tới nay:

Hà thời kết ốc vân phong hạ

Cấp giản phanh trà, chẩm thạch miên.

Nguyễn Trãi gọi Côn sơn là “gia sơn” (núi nhà) vì đó là nơi ẩn dật của ông ngoại ông, Băng Hồ tướng công Trần Nguyên Đán. Nguyễn Trãi đã lớn lên dưới sự chăm sóc của ông ngoại trong khu núi này.

 

Trần Từ Mai

diendantheky.net

Những bức thư cho thấy Karl Marx và Lenin chủ trương thác loạn tự do tình dục.

00leninV3.jpg

Năm 1911, Trotsky viết thư cho Lenin rằng: “Không còn nghi ngờ gì nữa, sự áp bức về tình dục là thủ đoạn chủ yếu của những kẻ nô dịch. Một khi còn áp bức thì không thể có sự tự do thực sự. Gia đình giống như thành phần cấu thành của giai cấp tư sản, cần phải khiến nó hoàn toàn mất đi”.

Continue reading Những bức thư cho thấy Karl Marx và Lenin chủ trương thác loạn tự do tình dục.